Cổng thông tin chính thức của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam - Tổ chức đại diện cấp quốc gia của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Hồ Gươm: nhân chứng lịch sử của Thủ đô

09:04:18 13/04/2015
Thu sang khiến cho Hồ Gươm như một cô gái mơ màng trong nét u buồn. Gió đưa hương thơm nhè nhẹ của hoa sữa tràn vào từng ngõ nhỏ. Đi bộ quanh hồ Gươm thả mình theo từng làn gió hiu hiu thổi, lắng nghe tiếng cựa mình của những chiếc lá vươn ra khỏi cành rơi xuống mặt hồ. Hình như mùa thu đã về!
 
Hồ Gươm: trời vào thu. Ảnh: Diệu Linh   
               
 Không phải chúng ta mà hàng trăm năm trước đây, ngay cả Nguyễn Du – khi đang là một ông quan tam phẩm của triều đình Huế nhân việc đi sứ mà được ghé qua Hà Nội đã thảng thốt kêu lên: “Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long” (Không ngờ đã bạc đầu rồi mà vẫn còn được nhìn thấy Thăng Long)!

Không nhiều thủ đô trên thế giới có được một thắng cảnh như Hồ Gươm và viết về Hồ Gươm thì không biết đến đâu là hết! Nếu Ba Đình là chứng nhân cho các biến cố chính trị của đất nước thì Bờ Hồ là chứng nhân cho sự thăng trầm của bao thân phận hàng chục thế kỷ.

Giữa lòng một thành phố có phần chật chội nhưng náo nhiệt, sát gần khu phố cổ, là một mặt nước tĩnh lặng trong vòng tay cổ thụ xanh ngắt bốn mùa. Ta để lại sau lưng mình bụi bặm và bao nỗi lo âu cực nhọc trần thế. Trong giây phút ta bỗng có nước, có rừng, tâm hồn ta trùng lại, ngỡ ngàng như vừa bước vào thế giới của những giấc mơ.

Ta sững người vì mặt nước xanh ngắt màu lục gọi ta về với dĩ vãng ngay giữa lúc ta đang vật lộn với hiện tại nhọc nhằn. Đó là mỹ cảm Hồ Gươm! Một nhà thơ Hy Lạp với tâm hồn nhạy cảm của mình, mới gặp Hồ Gươm lần đầu đã nhận ra Hồ Gươm là “lẵng hoa giữa lòng thành phố - mà sông Hồng là dải lụa bao quanh”

Kể từ ngày được gắn liền với truyền thuyết trả gươm của Lê Thái Tổ, và sau đó được minh quân trọng văn hóa là Lê Thánh Tông vun đắp, chăm chút, sau hàng trăm năm, Hồ Gươm trở nên đệ nhất danh thắng của Kinh kỳ. Trải mấy đời chúa Trịnh quanh hồ san sát biệt điện, ly cung, lâu đài, dinh thự của các ông hoàng bà chúa chen lẫn cùng đền chùa, miếu mạo và nhà ở của thị dân.

Vua Chiêu Thống – một ông vua hèn đớn mà thần dân thời đó cho rằng “chưa có vua nước Nam nào hèn hạ như thế” (Hoàng Lê nhất thống chí) – đã dựa hơi Tôn Sĩ Nghị đốt phá thành bình địa. Những “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo” và “nền cũ lâu đài bóng tịch dương”  bị tàn phá làm chúng ta tiếc nuối tận hôm nay. Dưới triều Nguyễn, hồ được sửa sang do công quả đóng góp của những nhà hảo tâm và nho sĩ đương thời, đặc biệt là danh sĩ Nguyễn Văn Siêu.

Nhà văn lỗi lạc được đánh giá là có thể làm mờ văn chương thời Tiền Hán này đã dụng công thiết kế quần thể kiến trúc đền Ngọc Sơn với dáng dấp ngày nay, và chính ông là người đã viết câu thơ mô tả mặt Hồ Gươm như chén rượu ngọc sáng lung linh mây trời Hà Nội. 

Hồ Gươm đẹp và thiêng, tuy lịch sử thường ít chọn những cảnh nên thơ để lưu hậu thế. Lịch sử cận đại có một trang đặc biệt về Bờ Hồ những năm từ 1954 đến 1960 khi hai miền chưa đoàn tụ. Thời đó, Hồ Gươm với một kiểu gọi rất Hà Nội là Bờ Hồ - đã đột nhiên trở nên thân thương lạ thường vào đêm giao thừa Tết âm lịch và tất cả những chiều thứ bảy, cả ngày chủ nhật.

Những người di cư năm 1954, khi Hà Nội mới được giải phóng, gia đình, bạn bè, thầy trò ly tán đều hy vọng tìm thấy nhau bên bờ Hồ Gươm. Thư từ, điện thoại hồi đó còn là chuyện xa xỉ, tìm nhau, thăm hỏi, kiếm tin tức của các thành viên gia đình ly tán trong Nam ngoài Bắc rất khó khăn. Chỉ có một cơ hội khả thi nhất là về Hà Nội những ngày thứ bảy, chủ nhật để nuôi hy vọng tìm thấy nhau, biết chút tin nhà. Bà con dạo quanh Bờ Hồ không chỉ một lần mà nhiều khi cả ngày để may ra có cơ hội gặp được người quen; tuy chỉ là tự nhiên nhưng nó xuất phát từ tình cảm gia tộc quê hương sâu nặng trong lòng mỗi người Việt nói chung và mỗi người con Hà thành nói riêng.

Những ai đã từng dạo Bờ Hồ những ngày chủ nhật đó chắc không thể quên những tiếng gọi, những vòng tay ôm, những giọt nước mắt bên Bờ Hồ. Đã có những chuyện xảy ra quanh Bờ Hồ như chỉ trong tiểu thuyết mới có. Một thanh niên Hà Nội lên tàu Nam tiến cuối năm 1945, mãi tới 10 năm sau mới cùng đơn vị tập kết ra Bắc. Tìm về nhà cũ thì không còn dấu vết. Nơi chôn nhau cắt rốn của anh nay đã là chỗ ở của mấy gia đình hồi cư. Không một mẩu tin, không một dòng địa chỉ. Anh lại đóng quân ở Sơn Tây nên chỉ tranh thủ mỗi tuần về Hà Nội một lần và cũng chỉ làm một việc duy nhất là dạo quanh Bờ Hồ hết vòng này đến vòng khác như quân đèn cù. Thế rồi trời cũng có mắt. Anh đã gặp được mẹ già, bà cụ nghe người ta mách bảo cũng chống gậy dạo Bờ Hồ để may ra gặp được con trai. Không ít những cặp yêu nhau, bố con, mẹ con hay chị em, láng giềng không tập kết một lần mà đợt trước đợt sau, họ thất lạc nhau trong lòng miền Bắc rộng lớn đang bề bộn trăm công ngàn việc sau mười năm chiến tranh…Lần nữa, Bờ Hồ là nhân chứng của một trang lịch sử với nỗi buồn chia cắt của dân tộc.

Người Hà Nội hay bất cứ ai, kể cả người nước ngoài từng sống một thời gian ở Hà Nội có lẽ khó quên những đêm giao thừa bên Bờ Hồ. Mỗi người Việt chỉ được “ăn” dăm bảy chục cái Tết ở đâu đó trên trái đất, xin bạn hãy dành cho Bờ Hồ một đêm giao thừa. Bởi vì, quên sao được cái không khí lạnh giá có ít mưa phùn, loại mưa nghe nói chỉ có ở Bắc Bộ Việt Nam nên người Pháp mới có danh từ để gọi đó là “le crachin Tonkinois” (mưa bụi Bắc Kỳ), mưa mà như không mưa.

Ta đi dạo quanh Bờ Hồ để đón giao thừa, một vòng, hai vòng và đến lúc nào đó bất chợt ta thấy tóc tai, quần áo và tay chân ướt đẫm. Cả một ngày ba mươi, Bờ Hồ vắng hẳn người, có thể gọi là vắng ngắt. Bởi vòng quanh Bờ Hồ hay các phố khác, du khách vãng lai ít đến trong dịp Tết, còn người Hà Nội thì ai cũng phải ở nhà để lo cúng chiều ba mươi. Quanh hồ chỉ còn lại những pa – nô, áp phích được dựng lên chào đón Tết Nguyên Đán, thợ chụp ảnh đang ế khách mà vẫn chưa “chạy” xong cái tết và mấy đứa trẻ không nhà với vẻ mặt buồn thiu. Thế nhưng, như một cơn mưa được dồn nén, ấp ủ trong mây bỗng vỡ òa. Từ chín giờ đêm trở về khuya, mọi con đường đều dẫn tới Bờ Hồ. Thiên hạ, phần lớn là nam thanh nữ tú Hà Nội – ngồi trên xe máy đổ về Hồ Gươm. Nói là họ đi xe máy, nhưng đêm đó không ai được đưa xe vào Bờ Hồ mà phải để xe cách hai đến ba cây số rồi lũ lượt đi bộ về. Trong chu vi khoảng hai cây số quanh hồ, như từ đất chui lên, hàng trăm ngàn người, trai thanh gái lịch về Bờ Hồ đi dạo, chờ xem bắn pháo hoa và hái lộc. 


 

Những chùm pháo hoa rực rỡ của Thủ đô. Ảnh: Diệu Linh

 
 
Nếu ai đã từng một lần được xem Hà Nội bắn pháo hoa sẽ không thể nào quên trong dòng người ồn ã ấy ngàn vạn ánh mắt sáng rực hướng lên bầu trời Hà Nội ngắm nhìn những chùm pháo hoa rực rỡ sắc màu. Sau mỗi chùm pháo hoa đẹp mê hồn, lung linh trong màn đêm là những tràng vỗ tay, những lời reo “ồ” đồng thanh, niềm tự hào dân tộc như dâng lên trong huyết quản của mỗi con người đang đứng đó và nhìn pháo hoa bay. Tôi thấy mình may mắn khi đã được tận mắt chứng kiến và hòa mình vào không khí ấy dù mới một lần. Bất giác khi đó nhìn một chùm pháo hoa đẹp như một quả cầu tuyết vừa nở bung ra những cánh hoa tuyết trắng muốt, huyền ảo giữa màn đêm lạnh của Hà Nội tôi thoáng nhìn xuống mặt nước Hồ Gươm…đẹp quá! Ôi đẹp quá tôi reo lên trong ngỡ ngàng: mặt hồ soi in trọn vẹn chùm pháo hoa, mặt nước lăn tăn sóng làm pháo hoa trở nên vừa thực vừa ảo, sáng lung linh mặt hồ ánh bạc.

Người và người. Bờ Hồ chỉ còn đèn và sóng người nhấp nhô. Người ta chen vai nhau giữa dòng người tấp nập đông nghìn nghịt, biết không để làm gì, không có gì để xem (mà cũng chẳng ai có tâm trạng xem), không có gì để mua vì sắm tết thì xong từ chiều ba mươi rồi, cũng không có cái gì để ăn, để uống vì không ai có thể bán cái gì cho đám đông như “nêm cối” ấy. Người ta chăm chăm đến trước để xem pháo hoa, để hái lộc. Đúng là thế. Nhưng còn hơn thế. Dạo Bờ Hồ đêm giao thừa đã trở thành một nhu cầu của tâm thức, nó hình thành không chỉ trong lớp già mà lạ lùng hơn là đậm hơn trong lớp trẻ.

Để rồi, sau trận pháo hoa, sau những giờ phút linh thiêng đón chào xuân mới, dòng người chảy về các ngả đường, về với mái ấm gia đình, xông đất lấy may cho một năm mới hanh thông, thuận lợi.

Bờ Hồ hôm nay là thế. Nó cũng đang làm chứng cho một thời kỳ đặc biệt trong lịch sử. Không biết cái lệ đón giao thừa quanh Bờ Hồ có từ lúc nào. Vũ Bằng đã từng mô tả đêm giao thừa ở Bờ Hồ trước ngày ông vào Nam trong “Thương nhớ mười hai”: “Lát nữa, cúng kiếng trời đất tổ tiên xong rồi, người vợ thoa tý phấn, điểm một giọt hồng lên má rồi bận cái áo nhung màu hoa sim, cùng chồng và con cái mở cửa đi ra đền Ngọc Sơn, rẽ sang đình Hàng Trống, đi lên Hồ Tây, vào đền Quán Thánh lễ giao thừa, rồi người thì cầm cành lộc, người cầm hương lộc, đi thong thả về nhà, sự mê ly còn gấp trăm ngàn lẫn nữa”.
Như vậy là, so với thời nhà văn Vũ Bằng, người Hà Nội đi giao thừa trong phạm vi hẹp hơn, chỉ loanh quanh Bờ Hồ chứ ít người sang đến Hàng Trống hay lên Quán Thánh. Cũng phải thôi, thời nào thế ấy!

Ngày nay, khi Bờ Hồ hòa mình vào không khí của thời đại mới của hội nhập và phát triển, nhu cầu văn hóa tinh thần tăng lên thì nó lại trở thành một nhân chứng cho những mối tình đẹp, nơi lưu giữ những khoảnh khắc thiêng liêng nhất của những đôi tân lang – tân giai nhân trong mùa chim làm tổ - một cách gọi văn hoa của mùa cưới. Năm nay, thời tiết dường như lý tưởng cho các đôi uyên ương hẹn hò xây tổ ấm. Ngay từ khi thu se se lạnh, lác đác một vài cặp uyên ương đã lấy hồ Gươm làm nền cho những khoảnh khắc sẽ đi theo họ suốt cuộc đời. Rồi trời như chiều lòng người, suốt những tháng qua nắng vàng trải dài trên khắp phố phường Hà Nội, còn hồ Gươm, dù bầu trời trong văn vắt, thì trên khoảng mênh mông sóng nước xôn xao vẫn dâng đầy màn sương như được tích lũy hàng ngàn năm nay. Từ sáng sớm tinh mơ khi sương sớm còn bồng bềnh chưa tan, cho đến giữa trưa Hà Nội tạm ngừng nhịp quay hối hả của mình cho phút nghỉ ngơi hiếm có, hay cả khi thành phố đã lên đèn, Hồ Gươm lung linh đèn đêm thì những đoàn chụp ảnh cưới vẫn hối hả với công việc lưu giữ những bức ảnh đẹp và ý nghĩa nhất cho các cặp cô dâu chú rể. Từng gốc cây bên hồ Gươm, từng di tích tháp Bút, đài Nghiên, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, từng góc cạnh của tháp Rùa đã làm nên những phông nền hết sức duyên dáng cho bộ ảnh cưới cả đời mới có một lần. Năm nay, chụp ảnh cưới buổi tối ở Bờ Hồ đang là một xu hướng rất thịnh hành trong giới trẻ Hà Nội, thậm chí có nhiều bạn trẻ ở các tỉnh thành lân cận với Hà Nội cũng chọn thời điểm đêm xuống để lưu giữ những bức ảnh cưới lung linh huyền ảo và độc đáo cho riêng mình.

 

 Chụp ảnh cưới buổi tối ở Hồ Gươm đang là “mốt” được rất nhiều bạn trẻ lựa chọn. 
Ảnh: Diệu Linh 
 
Mùa cứ thế đi. Rồi thời tiết cũng chẳng thể chiều lòng người mãi được. Hà Nội vẫn phải trải qua những ngày bầu trời mây xám, gió lạnh căm căm. Nhưng với tôi ngay cả khi đó Bờ Hồ vẫn toát lên một vẻ đẹp sâu lắng và huyền ảo riêng có. Vẫn là nơi tôi lưu luyến nhất khi phải xa Hà Nội. Là nơi tôi muốn “Nhờ dòng sông gửi chút tình xa vắng. Mượn hồ Gươm gọi nắng từ trời xanh” bởi: 
 
Tôi muốn mang Hồ đi trú đông
nhưng làm sao mang nổi được sông Hồng.
Làm sao gói nổi heo may rét
thôi đành để hồ cho gió bấc trông
 
Sao Hồ Gươm biết tôi ra đây
mà trùm yêu thương lên bóng vai gầy
mà lau mắt tôi bằng ngàn con sóng
mà thả trời xanh xuống trên từng nhánh cây. 


Theo Thanglonghanoi
Gửi bình luận của bạn
Mã xác nhận

Thăm dò ý kiến

Liên kết website